Bible

Say Goodbye

To Clunky Software & Sunday Tech Stress!

Try RisenMedia.io Today!

Click Here

John 4

:
Vietnamese - VIE2010
1 Khi Đức Chúa Jêsus biết được người Pha-ri-si nghe nói Ngài thu nhận làm báp-têm nhiều môn đồ hơn Giăng,
2 (Thật ra không phải chính Đức Chúa Jêsus làm báp-têm, nhưng các môn đồ của Ngài),
3 thì Ngài rời miền Giu-đê trở về miền Ga-li-lê.
4 Nhưng Ngài phải đi ngang qua vùng Sa-ma-ri.
5 Vậy, Ngài đến một thành của vùng Sa-ma-ri, gọi Si-kha, gần cánh đồng Gia-cốp đã cho con mình Giô-sép.
6 Tại đó cái giếng Gia-cốp. đi đường mệt mỏi, nên Đức Chúa Jêsus ngồi lại bên giếng. Lúc ấy vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Một phụ nữ Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Jêsus nói với bà: “Cho Ta xin nước uống.”
8 Lúc ấy, các môn đồ Ngài đã đi ra phố mua thức ăn.
9 Người phụ nữ Sa-ma-ri nói: “Sao ông một người Do Thái lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho uống nước?” (Vì người Do Thái vốn không giao tiếp với người Sa-ma-ri.)
10 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu chị biết quà tặng của Đức Chúa Trời, Người đang nói với chị: ‘Cho Ta xin nước uống’ ai thì chắc chắn chị sẽ nài xin Người, Người sẽ cho chị nước sống.”
11 Người phụ nữ nói: “Thưa ông, ông không gầu múc, giếng thì sâu, vậy ông lấy đâu ra nước sống ấy?
12 Tổ phụ chúng tôi Gia-cốp đã cho chúng tôi giếng nầy; chính Gia-cốp, các con bầy gia súc của người đều uống giếng nầy, vậy ông lớn hơn Gia-cốp sao?”
13 Đức Chúa Jêsus đáp: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát mãi,
14 nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ trở thành một mạch nước trong người ấy, tuôn trào đến tận sự sống đời đời.”
15 Người phụ nữ nói: “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi không còn khát khỏi đến đây múc nước nữa.”
16 Ngài bảo: “Hãy đi gọi chồng chị, rồi trở lại đây.”
17 Người phụ nữ thưa: “Tôi không chồng.” Đức Chúa Jêsus nói: “Chị bảo rằng chị không chồng phải,
18 chị đã năm đời chồng, còn người chị hiện không phải chồng chị; điều nầy chị đã nói thật.”
19 Người phụ nữ nói: “Thưa ông, tôi nhận biết ông một nhà tiên tri.
20 Tổ phụ chúng tôi thờ phượng trên núi nầy, còn các ông thì nói rằng thành Giê-ru-sa-lem mới chỗ đáng thờ phượng.”
21 Đức Chúa Jêsus đáp: “Nầy, người phụ nữ kia, hãy tin Ta, giờ sắp đến, các ngươi không còn thờ phượng Cha trên núi nầy hay tại thành Giê-ru-sa-lem nữa.
22 Các ngươi thờ phượng Đấng các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng Đấng chúng ta biết, sự cứu rỗi đến từ người Do Thái.
23 Giờ sắp đến đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha bằng tâm linh chân lý; ấy những người thờ phượng Cha tìm kiếm.
24 Đức Chúa Trời thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh chân lý.”
25 Người phụ nữ thưa: “Tôi biết rằng Đấng Mê-si-a (nghĩa Đấng Christ) sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ công bố cho chúng tôi mọi điều.”
26 Đức Chúa Jêsus phán: “Ta, người đang nói với chị đây, chính Đấng đó.”
27 Lúc ấy, các môn đồ đến. Họ kinh ngạc khi thấy Ngài nói chuyện với một phụ nữ; nhưng không một ai hỏi: “Thầy cần gì?” hay là: “Sao Thầy nói chuyện với phụ nữ nầy?”
28 Người phụ nữ bỏ nước của mình lại đi vào thành, nói với mọi người rằng:
29 “Hãy đến xem một người đã nói đúng hết tất cả những tôi đã làm. Đó không phải Đấng Christ sao?”
30 Họ ra khỏi thành đến với Đức Chúa Jêsus.
31 Trong lúc đó, các môn đồ nài nỉ Ngài: “Thưa Thầy, xin hãy ăn.”
32 Nhưng Ngài đáp: “Ta lương thực để ăn các con không biết.”
33 vậy, các môn đồ nói với nhau: “Có ai đã đem cho Ngài ăn chăng?”
34 Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Lương thực của Ta làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta, hoàn tất công việc của Ngài.
35 Chẳng phải các con nói: ‘Còn bốn tháng nữa đến mùa gặt sao?’ Nhưng Ta nói với các con: ‘Hãy ngước mắt lên xem những cánh đồng đã vàng sẵn sàng cho mùa gặt.
36 Người gặt nhận tiền công thu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn người gặt đều vui mừng.’
37 chỗ nầy, câu nói: ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt,’ rất đúng.
38 Ta đã sai các con gặt những mình không phải làm khó nhọc. Những người khác đã làm khó nhọc, còn các con thì vào chia sẻ công khó của họ.”
39 Nhiều người Sa-ma-ri thành đó tin Ngài, người phụ nữ đã làm chứng rằng: “Ngài đã nói ra hết mọi điều tôi đã làm.”
40 vậy, khi đến với Ngài, những người Sa-ma-ri xin Ngài lại với họ, Ngài đã lại đó hai ngày.
41 Qua lời của Ngài, số người tin càng đông hơn nữa.
42 Họ nói với người phụ nữ rằng: “Bây giờ không còn phải nhờ những chị nói chúng tôi tin, chính chúng tôi đã nghe, biết rằng Ngài thật Cứu Chúa của thế gian.”
43 Hai ngày sau, Đức Chúa Jêsus rời nơi ấy, đi đến miền Ga-li-lê.
44 (Vì chính Ngài đã xác nhận rằng, nhà tiên tri không được tôn trọng nơi quê hương mình.)
45 Khi đến miền Ga-li-lê, Ngài được dân Ga-li-lê tiếp đón, bởi họ đã chứng kiến tất cả những Ngài đã làm tại thành Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ, chính họ cũng đi dự lễ.
46 Vậy, Ngài trở lại Ca-na trong miền Ga-li-lê, nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Một viên quan trong hoàng gia tại Ca-bê-na-um người con trai bị bệnh.
47 Khi viên quan nầy nghe Đức Chúa Jêsus đã từ Giu-đê đến Ga-li-lê thì tìm Ngài, cầu xin Ngài đến chữa cho con mình sắp chết.
48 Đức Chúa Jêsus nói với viên quan rằng: “Nếu không thấy dấu lạ phép mầu, thì hẳn các ngươi không tin!”
49 Viên quan thưa: “Lạy Chúa, xin đến trước khi con tôi chết!”
50 Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy đi, con ngươi sẽ sống.” Viên quan tin lời Đức Chúa Jêsus nói với mình đi.
51 Khi ông đang đi, các đầy tớ của ông đến gặp ông nói: “Con trai của chủ sống!”
52 Viên quan hỏi họ con ông đã bình phục vào giờ nào. Họ trả lời: “Hôm qua, vào khoảng một giờ chiều, cậu hết sốt.”
53 Người cha nhận biết đó chính giờ Đức Chúa Jêsus đã bảo mình rằng: “Con của ngươi sẽ sống”; nên chính ông, cả nhà đều tin.
54 Đây dấu lạ thứ hai Đức Chúa Jêsus đã làm, sau khi Ngài từ Giu-đê về Ga-li-lê.