Bible

Transform

Your Worship Experience with Great Ease

Try RisenMedia.io Today!

Click Here

Joshua 21

:
Vietnamese - VIE1925
1 Bấy giờ, các trưởng tộc người Lê-vi đến gần thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun, các trưởng tộc của những chi phái Y-sơ-ra-ên,
2 nói cùng họ tại Si-lô trong xứ Ca-na-an, rằng: Ðức Giê-hô-va cậy Môi-se truyền ban những thành cho chúng tôi ở, đất chung quanh thành đặng dùng cho súc vật chúng tôi.
3 Vậy, dân Y-sơ-ra-ên vâng mạng Ðức Giê-hô-va, lấy trong sản nghiệp mình những thành sau này, đất chung quanh nó, cấp cho người Lê-vi.
4 Người ta bắt thăm cho các họ hàng Kê-hát; những con cháu của thầy tế lễ A-rôn về dòng Lê-vi bắt thăm được mười ba thành bởi trong chi phái Giu-đa, chi phái Si-mê-ôn, chi phái Bên-gia-min.
5 Còn những con cháu khác của Kê-hát, theo thăm được mười cái thành của chi phái Ép-ra-im, của chi phái Ðan, của phân nửa chi phái Ma-na-se.
6 Ðoạn, con cháu Ghẹt-sôn, theo thăm được mười ba cái thành của chi phái Nép-ta-li, của phân nửa chi phái Ma-na-se Ba-san.
7 Con cháu Mê-ra-ri, tùy theo những họ hàng của chúng, được mười hai cái thành của chi phái Ru-bên, của chi phái Gát, của chi phái Sa-bu-lôn.
8 Dân Y-sơ-ra-ên bắt thăm cấp cho người Lê-vi các thành đó với đất chung quanh, y như Ðức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dặn cho.
9 Vậy, dân Y-sơ-ra-ên lấy trong chi phái Giu-đa trong chi phái Si-mê-ôn, các thành tên đây, cấp cho.
10 Con cháu A-rôn về dòng Kê-hát, con trai Lê-vi, được các thành ấy; phần thứ nhất bắt thăm trúng về họ.
11 Người ta bèn cấp cho họ thành Ki-ri-át-a-ra-ba, (A-ra-ba cha của A-nác), tức Hếp-rôn trên núi Giu-đa, đất chung quanh thành đó.
12 Còn địa phận của thành, các làng nó, thì người ta cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.
13 Người ta cấp cho con cháu thầy tế lễ A-rôn thành Hếp-rôn, thành ẩn náu cho kẻ sát nhơn, đất chung quanh thành; Líp-na đất chung quanh thành,
14 Giạt-thia đất chung quanh, Ê-thê-mô-a đất chung quanh thành,
15 Hô-lôn đất chung quanh thành, Ðê-bia đất chung quanh thành,
16 A-in đất chung quanh thành, Giu-ta đất chung quanh thành, Bết-Sê-mết đất chung quanh thành: hết thảy chín cái thành của hai chi phái này.
17 Người ta lại lấy trong chi phái Bên-gia-min cấp cho họ. Ga-ba-ôn đất chung quanh thành, Ghê-ba đất chung quanh thành,
18 A-na-tốt đất chung quanh thành, cùng Anh-môn đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
19 Cộng các thành của những thầy tế lễ, con cháu A-rôn, mười ba cái thành với đất chung quanh.
20 Những người Lê-vi thuộc họ hàng con cháu khác của Kê-hát, được mấy thành trong chi phái Ép-ra-im làm phần của mình.
21 Người ta cấp cho họ Si-chem, thành ẩn náu cho kẻ sát nhơn, trên núi Ép-ra-im, đất chung quanh thành, Ghê-xe đất chung quanh thành,
22 Kíp-sa-im đất chung quanh thành, Bết-Hô-rôn đất chung quanh thành, Ghi-bê-thôn đất chung quanh thành, hết thảy bốn cái thành.
23 Người ta lấy trong chi phái Ðan, cấp cho họ Ên-thê-kê đất chung quanh thành, Ghi-bê-thôn đất chung quanh thành,
24 A-gia-lôn đất chung quanh thành, Gát-Rim-môn đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
25 Lại lấy trong phân nửa chi phái Ma-na-se, Tha-a-nác đất chung quanh thành: hết thảy hai cái thành.
26 Cộng mười cái thành đất chung quanh thành cho những họ hàng của các con cháu khác của Kê-hát.
27 Người ta cũng lấy trong phân nửa chi phái Ma-na-se, thành Gô-lan xứ Ba-san, thành ẩn náu cho kẻ sát nhơn, cấp cho con cháu Ghẹt-sôn về các họ hàng Lê-vi, đất chung quanh thành ấy, Bết-ê-ra đất chung quanh thành: hết thảy hai cái thành.
28 Lại lấy trong chi phái Y-sa-ca, Ki-si-ôn đất chung quanh thành, Ðáp-rát đất chung quanh thành,
29 Giạt-mút đất chung quanh thành, Ên-gia-nim đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
30 Từ trong chi phái A-se, lấy Mi-sê-anh đất chung quanh thành,
31 Hên-cát đất chung quanh thành Rê-hốp đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
32 Cũng lấy trong chi phái Nép-ta-li, thành Kê-đe Ga-li-lê thành ẩn náu cho kẻ sát nhơn, đất chung quanh, Ha-mốt-Ðọ-rơ đất chung quanh thành, Cạt-than đất chung quanh thành: hết thảy ba cái thành.
33 Cọng các thành của người Ghẹt-sôn, tùy theo những họ hàng, mười ba cái thành với đất chung quanh.
34 Người ta cũng lấy trong chi phái Sa-bu-lôn cấp cho những họ hàng con cháu Mê-ra-ri, tức những người Lê-vi sau chót, thành Giốc-nê-am đất chung quanh thành, Cạt-ta đất chung quanh thành.
35 Ðim-na đất chung quanh thành, Na-ha-la đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
36 Từ trong chi phái Ru-bên, lấy thành Bết-se đất chung quanh thành, Giát-sa đất chung quanh thành, Giát-sa đất chung quanh thành,
37 Kê-đê-mốt đất chung quanh thành, Mê-phát đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
38 Lại lấy trong chi phái Gát, thành Ra-mốt xứ Ga-la-át, thành ẩn náu cho kẻ sát nhơn, đất chung quanh thành, Ma-ha-na-im đất chung quanh thành,
39 Hết-bô đất chung quanh thành, Gia-ê-xe đất chung quanh thành: hết thảy bốn cái thành.
40 Cộng các thành cấp cho con cháu Mê-ra-ri, tùy theo những họ hàng của chúng, tức hậu các họ hàng Lê-vi, mười hai cái thành.
41 Cộng các thành người Lê-vi giữa sản nghiệp dân Y-sơ-ra-ên bốn mươi tám cái thành cùng đất chung quanh thành.
42 Mỗi thành ấy đều đất chung quanh; hết thảy thành cũng đều như vậy.
43 Thế thì, Ðức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên cả xứ Ngài đã thề ban cho tổ phụ họ. Dân Y-sơ-ra-ên nhận làm sản nghiệp, tại đó.
44 Ðức Giê-hô-va làm cho tứ phía đều được an nghỉ, y như Ngài đã thề cùng tổ phụ họ, chẳng một kẻ thù nghịch nào còn đứng nổi trước mặt họ. Ðức Giê-hô-va phó hết thảy kẻ thù nghịch vào tay họ.
45 Trong các lời lành Ðức Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng một lời nào không thành: thảy đều ứng nghiệm hết.